Tôi mơ – một giấc mơ

...Tôi ngồi đây; nhưng không biết mình từ đâu đến – và đến từ bao giờ...Chỉ biết rằng thị trấn nhỏ này đang có chiến tranh...Nhiều căn nhà đổ nát, nhiều vách tường loang vết đạn...hoang phế, điêu tàn...Chiến tranh mỗi ngày một khốc liệt...và trời ở đây mưa hàng thế kỷ...Chị chủ quán cười buồn đợi khách...Chiến tranh...thị trấn vắng người...không gian màu đỏ...mưa màu vàng...thật lạ...Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng này. Từ ngoài mưa, một người khách vào quán...lại là người con gái...dáng người mảnh khảnh...tóc cắt ngắn...màu tóc đỏ như lửa...khuôn mặt dị ảo phân đôi...một bên “màu đen xám”...một bên “trong suốt như thủy tinh vàng lá úa”...hai mắt trũng sâu sáng rực như mặt trời...Cô ta đi đến chọn chiếc bàn ngay cạnh tôi...kéo ghế ngồi và vẽ...Cô ta vẽ trên mặt bàn: hình ảnh buổi chiều trời mưa...Tôi cảm thấy sợ...một cảm nhận mơ hồ xâm chiếm tâm hồn...Người con gái vẫn vẽ trên mặt bàn “những bộ xương khô...nhảy múa, điên cuồng theo điệu nhạc của thần chết...” Tôi nhìn thấy... và tôi hỏi...”Những bộ xương này là ai?” Cô bảo: “những người sinh ra tôi...nhưng họ đã giết tôi; khi Đức Chúa Trời chưa lập đủ hình hài...” Tôi hỏi: “Chị được sinh ra bao giờ...?” “Tôi chết trước khi sống...và trước Thiên Chúa giáng sinh một ngàn năm” Chị chủ quán nhìn chúng tôi...rồi chỉ tay và bảo...Bên kia đường...ở cuối chân trời...có một khách sạn nhỏ...; Cô cậu vào đó ngủ với nhau một đêm. Ở đây...không có gì vui cả...ngày mai không biết mặt trời có mọc ở nơi này...? Tôi im lặng, hình như người con gái vẫn vẽ và  khóc...Một lúc có tiếng nói khẽ khàng...”Thầy có nghe gì không...” Tôi trả lời là tôi đang bận...Người con gái lại hỏi: “Việc gì?”...tôi nói: “Chuyện buồn năm cũ”...Cô ta lại hỏi: “Từ bao giờ”...Tôi trả lời: “Một ngàn năm trước”...Rồi tôi kể lại chuyện ngày xưa: ở một thị trấn nhỏ, hai người con gái nhà quí tộc yêu tôi  và một người cộng sự...Bổng nhiên tôi nghe cô ta tự nhận: “Thưa Thầy...Người ấy chính là tôi”...Tôi ngước nhìn người con gái...gương mặt nhạt nhòa nước mưa...Màu máu...Tôi thảng thốt gọi tên...thoáng chốc mơ hồ...Người con gái biến mất... …Tôi muốn trở về nhà, bên kia dãy chung cư của con đường phố là con đường chạy dài đến một bến phà, ở đó có một bến xe nhỏ…thưa thớt những chiếc xe chở khách thật cũ, vận chuyển người bộ hành và hành lý của họ, tôi cố tìm đường đến con đường ấy…nhưng dãy nhà bít kín…Không có lối vào, tôi đi mãi, đường dài hun hút, tất cả mọi cánh cửa đóng chặt…Lạ…hình như Thành phố không người, hoang vắng, thỉnh thoảng tôi lại nhìn thấy một con chó hoang của nhà ai bỏ lại…Nó vừa đói…vừa sợ khi gặp tôi; Tôi buồn khi nhìn thấy nó. Im lặng, quá im lặng…Không một âm thanh, một tiếng động – Soạt…Bất giác con mèo hoang ở góc đường bên đống rác bỏ chạy. Phía kia, con lợn đang đứng ăn xác người đã phân hủy. Giữa dãy phố có một cửa mở - Tôi nghĩ: đây là khoảng trống để ra con đường – Tôi đi thẳng vào, trước mặt là một hành lang chạy dài gần như vô tận, và có một cầu thang, tôi đi lần lên cầu thang, hết tầng một đến tầng hai rồi tầng ba và tầng bốn. Tôi cảm thấy mệt…dừng lại nghỉ chân – Ngay bậc nghỉ, tôi thấy ai đó kê chiếc bàn cũ; tôi tự hỏi tại sao có chiếc bàn kê ở nơi này…và hình như bàn thờ…không có lư nhang, chỉ có cây Thánh giá mang hình Chúa Jesu treo trên vách tường. Trên bàn có một chiếc khay gỗ, trên khay gỗ có để một vật gì đó và phủ lên một tấm vải đen đã nhạt màu. Tôi lấy tay lật tấm vải; lộ ra một chiếc đầu lâu; và phía sau là tấm ảnh chân dung khuôn mặt người con gái rất trẻ. Chiếc đầu lâu ố vàng có những chỗ nấm mốc màu xanh. Hai hốc mắt và mũi trống hoang…Tôi sợ…Ngoài kia có tiếng chim đêm bay ngang qua kêu tao tác giữa lưng trời – Gương mặt người con gái tôi nhìn thấy thật quen, nhưng sao lại ở nơi này…Hình như, người trong ảnh là con gái của nhà quí tộc, hay là một người nào đó tôi rất quen, nhưng giờ thì tôi quên, đã nhiều năm rồi mọi hình ảnh có khi chỉ tiềm tàng trong ký ức.Ánh trăng huyền hoặc chiếu vào làm sáng cả một không gian…Tĩnh mịch, thật tĩnh mịch…Chính ánh trăng huyền hoặc ma quái này làm cho tôi sợ. Tôi muốn bỏ chạy. Thật lạ, chiếc đầu lâu tự nhiên phát ra tiếng khóc và đòi tôi trả lại tình yêu. Vâng – Đây chính là người con gái nhà quí tộc hoặc là người con gái nào đó năm xưa yêu tôi – Kinh khiếp quá – tôi bỏ chạy, chạy mãi đến một đoạn đường bên chợ, tôi lại gặp một người đàn bà đang ngồi hát…Tôi dừng lại hỏi đường về nhà. Chị ta không trả lời, mà nói với tôi chị đang đi tìm người yêu và đứa con gái lạc mất năm xưa. Tôi hỏi vì sao? Chị bảo chị bị người yêu lừa dối – và gia đình từ bỏ khi biết chị mang thai…Sinh con ở một “Bảo sanh viện” nào đó…Cho con và đi lang thang…gần hai mươi năm rồi…Tôi nhìn chị nửa lạ…nửa quen…ái ngại một điều tội lỗi…Và nhận là người yêu cũ…Chị nhìn tôi, rồi ngửa mặt lên trời cười và bỏ đi xuống con dốc, nắng vàng đổ phía sau lưng...Tiếng cười ghê rợn, như mảnh vỡ thủy tinh, mỗi lúc một xa dần... Trời bắt đầu tối, tôi thất vọng nhìn theo, không biết chị về đâu?...Gió – hoang vu thổi qua miền hư ảo, giữa sa mạc mênh mông, đêm trắng, tôi ngồi trên bề mặt tảng đá, sương bắt đầu lạnh. Có lẽ khuya, thật khuya rồi, không biết bây giờ là mấy giờ, tôi mất cả ý thức về thời gian và không gian. Người con gái ngồi cạnh tôi nói nhỏ: về thôi – ngày mai em gặp Mẹ. Tôi buồn vô cùng, tôi nhớ là hình như tôi cũng có Mẹ, nhưng Mẹ tôi là ai? Và ở đâu? Tôi hoàn toàn không biết, Mẹ tôi là những cô gái ở quán bar, ở phòng trà, ở vũ trường hay Mẹ là hai chị em, con gái nhà quí tộc ngày xưa tôi cũng đã từng quen...Trời bổng dưng tối sầm, không gian mờ mịt – người con gái nắm chặt tay tôi, còn tôi không biết đường về. Gió, mỗi lúc một mạnh hơn – âm thanh vang động trong sa mạc có lúc cuồng nộ, như điệu nhạc Jazz. Tôi tự nhủ, chắc những hạt cát va chạm vào nhau, tạo thành một âm thanh hổn loạn, hay một đống xương người phơi khô, ban ngày và ban đêm có gió luồn qua các khe trống tạo thành âm thanh. Tiếng ai gọi xa xôi lắm. Đêm mưa lạnh thế này, chó nhà ai sủa? Chắc có ai đang đi trong đêm? Sao lại có người đi giờ này? Và tại sao con chó nhà ai đó không ngủ - tội nghiệp. Tiếng chó sủa đêm nghe thật buồn... Đồng hồ nhà ai rớt một tiếng – và ngay ngã tư đường tôi nhìn thấy một người đàn bà, mặc nguyên bộ đồ màu đỏ. Bà ta dùng tay ngoắc tôi, tôi đến, bà bảo rằng: bà đã đợi tôi ở đây từ lâu lắm. Bà là Mẹ của tôi, bà muốn tôi đi theo bà, rồi bà đi trước, tôi theo sau, không ai nói với ai câu nào. Đi được một quãng đường xa bà dừng lại trước một căn nhà, hình như đây là một khách sạn, bà bước vào, tôi theo sau; căn tiền sảnh thật tối. Có ai đó đưa cho bà một cái khay tròn bằng gỗ, trên mặt khay thắp nhiều cây nến; khay gỗ có tay cầm, thế là bà cầm đèn đi trước, tôi theo sau – từng bậc thang, tôi và bà đến tầng cuối của khách sạn. Bà dừng lại rẽ qua một bên và đứng trước cửa phòng bà nói cùng tôi, Mẹ đã chọn một người con gái “vừa ý Mẹ cho chính con” – rồi bà mở cửa bước vào, tôi vào sau. Bà bảo “Con ở đây với nàng và dạy bảo nàng”. Những cây nến cháy sáng rực cả một góc phòng, bà trở ra và đóng cửa. Trên chiếc giường trải drap trắng có một người nằm ngủ, phủ trên người một chiếc drap khác màu đen; tôi đến đầu giường kéo tấm drap, lộ ra một bộ xương người sắp ngay ngắn – tôi hoảng hốt la lên...và lại thấy mình đang ngồi, đầu gục lên hai đầu gối, trong nghĩa trang Thiên Chúa. Những cây Thánh giá lờ mờ trong bóng tối... Có một vài tiếng cú đêm gọi nhau nghe u uất...Mây trên trời bay qua mặt trăng, làm cho không gian trở nên u thẩm. Một âm thanh nghe không rõ, xa lắm vọng lại...Có tiếng khóc trẻ thơ, và lời ru của người Mẹ. Dường như tôi đang bị mê hoặc và mất ý thức, không gian, thời gian không còn phân định. Trăng,...vẫn là ánh trăng, mờ ảo huyền hoặc, ám ảnh tôi suốt một quãng đời...Tôi nhớ người yêu năm cũ, và một tấm hình gắn trên mộ bia, tấm hình ấy ố vàng, tôi vẫn mang theo mình, có những lúc tôi nhìn tấm hình và tôi khóc. Tôi thương tôi và thương người ấy. Nhưng thật ra tôi không biết người ấy là ai?...Chỉ mơ hồ hình bóng...Một ngày nào đó, tôi về lại thị trấn nhỏ, ở đó có ngôi biệt thự cũ, tường xung quanh bên trong, những chùm hoa Tigôn màu trắng tím mỏng manh, rơi trên áo một người con gái, cô nhặt một cánh hoa, và đưa lên môi hôn. Tôi nhìn thấy cánh hoa mỏng manh, và người con gái cũng mỏng manh như cánh hoa. Tôi đến gần: chào chị...Người con gái ngước mặt nhìn tôi, hai mắt to đen tròn ướt lệ, phản phất nỗi buồn u uẩn, và chị hỏi thật nhỏ: Anh còn ở đây bao lâu?...Tôi trả lời chị: có lẽ hết hè tôi sẽ về lại trường, và tôi nói thêm: Thầy có nhã ý mời tôi ở lại, kèm văn và toán cho hai chị...Chị im lặng một lúc rồi hỏi tôi: Anh có nhận lời của Thầy tôi không? Tôi bâng khuâng nhìn chị...Tôi nhớ là năm đó, tôi ở lại ngôi biệt thự của nhà quí tộc một thời gian để dạy kèm hai người con gái nhà quí tộc. Thầy là người dáng cao, quý phái, hơi gầy, tóc đã bạc màu. Vợ ông chết sớm, ông đang nuôi dạy hai người con gái gần bằng tuổi tôi. Ngày xưa thầy đi lính cho một Nhà nước Bảo hộ, khi Chính quốc có chiến tranh, thầy tòng quân phục vụ. Thầy cùng đơn vị luân chuyển đến Algerie (Châu Phi) thì phải? Hay Maróc gì đó...Chiến tranh kết thúc, thầy trở về cố quốc, lấy vợ, sinh được hai người con gái, rồi bà chết...Tôi không hiểu nhiều, chỉ biết vậy thôi. Ngoài việc dạy kèm hai chị học, tôi còn một việc nữa là chỉnh sửa từ ngữ trong tập hồi ký mà Thầy viết sai ngữ pháp, vì tiếng Pháp thầy không giỏi, nên đôi khi viết sai từ ngữ ở một địa phương nào đó – Đến sau này, nhớ lại chuyện buồn xưa. Tôi rất buồn, ngôi biệt thự cũ luôn ám ảnh. Thường vào buổi tối, tôi hay ngồi một mình, nhìn lên bức tường tiền sảnh, hình ảnh người ta khắc họa lên ấy: là những bộ xương người; hình thành một ban nhạc: kèn, trống, đàn...toàn là xương người...có ca sĩ, nhạc công...Những bộ xương nhảy múa, đánh trống, thổi kèn,...Những chiếc đầu lâu dính liền với bộ xương khô lắc lư theo những bộ xương khô khác, một điệu nhạc ma quái nào đó?...Thật kinh dị, thật rùng rợn, khủng khiếp...Tôi suy nghĩ, tại sao lại bức tranh này...không gian yên ấn, chiều nắng mờ nhạt dần rồi tối hẳn...Ai đó đã bật ngọn đèn, ánh sáng chiếu vào bức tranh, đèn không đủ sáng, vàng vọt, lạnh lẻo, làm cho bức tranh sinh động hơn. Cách đó một khoản tường là hình Chúa Jesu trên Thập tự giá. Đêm mùa hạ, gió lắc lay một vài cành cây nhỏ trong sân – tôi thấy hoa Tigôn rụng...nhưng không một bóng người, cảm thấy sợ...Đứng dậy, xoay người bất chợt, tôi nhìn thấy chị đứng đó, trước mặt tôi...Tôi chào...và nói thầm thì...Chào chị...chị nhìn tôi dưới ánh sáng nhạt nhòa, vẫn gương mặt hiền hòa, nhu mì như Đức Mẹ đồng trinh Maria. Vẫn đôi mắt tròn to, âm u, mộng mị...Tôi bối rối nhìn chị...chị nói thật nhỏ, âm thanh như chùng xuống trong bóng tối. “Tôi biết anh ngồi đây” – đã mấy chiều rồi, hình như anh có tâm sự buồn, đôi lúc tôi cũng thế, tuổi của chúng ta là thế. Tôi cũng ngồi đây – nhìn ánh đèn hiu hắt chiếu vào bức tranh trên tường. Tôi giật mình hỏi chị: “Sao có bức tranh này?”, chị suy nghĩ rồi trả lời: Tôi không rõ...Rồi chị kể cho tôi nghe: Ngôi biệt thự này do Ba của chị mua lại, chủ ngôi biệt thự là hai vợ chồng người Pháp, giám đốc đồn điền cao su...Gia đình về nơi đây lúc chị sáu tuổi và em gái bốn tuổi. Ở đây được ít lâu thì Mẹ chết, chị cho biết: Ba rất buồn, và bức tranh như gợi nhớ lại một thuở nào: những vũ trường, phòng trà, hộp đêm...vì Ba gặp Mẹ ở những nơi ấy, Mẹ là một vũ nữ (Cava). Bây giờ Ba nghĩ, thân xác dù mục rữa, nhưng bộ xương vẫn còn, vẫn nhảy múa điên cuồng, và hát những điệu nhạc man rợ, ma quái...Tôi hỏi chị có sợ bức tranh này không? Chị trả lời: chị yêu bức tranh, và chị lý giải: ở thế giới này là ta, thế giớ khác vẫn là ta. Chị chỉ tay về chiếc ghế đá dài, chị bảo tôi ngồi...Rồi chị ngồi bên tôi, chị nói chị rất ít bạn...chị muốn tôi kể chuyện. Tôi hỏi: “Đề tài?” Chị bảo: tôi muốn nghe “những cuộc tình buồn”. Thú thật tôi là một sinh viên sắp ra trường, tôi học khoa học thực nghiệm, nhưng tôi vẫn thích viết văn, tôi cũng đã viết xong vài cuốn tiểu thuyết và mấy tập truyện ngắn nên tôi không gặp khó để kể cho chị nghe những chuyện tình buồn...Tôi hỏi chị thích tác phẩm nào? Hay tác giả nào? Chị suy tư và hỏi tôi: “Anh thích tác giả nào?” Tôi trả lời chị: Tôi là một nhà văn, tôi đọc rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả lúc tôi ở ký túc xá Đắc Lộ Dòng Tên - Ở đây có một thư viện dành cho sinh viên Thiên Chúa giáo, nên tôi có điều kiện đọc nhiều...Chị hỏi, tác phẩm nào anh vừa ý nhất? Tôi trả lời chị: tôi thích tác phẩm của tôi...Chị bảo...vậy anh kể cho tôi nghe, và tựa đề tác phẩm là gì? Tôi trả lời: “Lời Tự Thú” – Rồi tôi bắt đầu kể...tôi kể từng phần câu chuyện, và từ chiều này qua chiều kia, chị luôn trầm tư nghe tôi kể, có lúc chị hỏi một vài câu, tôi không dám trả lời. Thế rồi tôi lại tiếp tục kể...cho đến một chiều Ana em gái chị, tham gia nghe tôi kể chuyện, lúc đầu Ana ngồi cạnh chị được vài hôm thì Ana ngồi gần tôi, tôi ngồi giữa hai chị, băng ghế không dài nên chúng tôi ngồi gần nhau. Có những lúc hai chị chạm vào người tôi, thật gần gũi, bản năng dâng ngập miền ao ước...Tôi mơ hồ cảm thấy một điều gì đó bẽ bàng...Rồi tôi kể tiếp về người đàn ông, ông ta là một Pilot (Phi công) làm việc cho Hảng Hàng không quốc tế, năm tháng trôi dài với những chuyến bay, ông ít về nhà. Người vợ trẻ ở nhà một mình, chị trước đây là một Chiêu đãi viên hàng không, bây giờ chị là vợ và không còn bay theo đoàn bay nữa. Trong căn biệt thự lộng lẫy, im vắng, chị cảm thấy cô đơn và nhớ những ngày xưa, những chuyến bay dài, ngày tháng cũ...Có những đêm chị chập chờn, mộng mị trong giấc ngủ ngắn dài...Chị mơ thấy những điều thật lạ: một đứa nhỏ ôm chân chị khóc gọi mẹ và kêu tên ai đó chị nghe không rõ, những bước chân dồn dập rồi xa dần...Hình như ngoài trời đang mưa, mưa đêm nhẹ và lạnh, gợi lại một nỗi buồn u uất, nơi không gian huyền ảo, mơ hồ, hoài niệm một miền xa hiu hắc, có gió bốn mùa. Nơi thôn dã êm đềm, bổng dưng chiến tranh ập đến gây ra bao nỗi tang thương, mỗi lúc một tàn khốc, ngày qua ngày không dấu hiệu dừng lại, người người dắt díu nhau chạy giặc, rồi gia đình chị về thành phố, sau di cư vào Nam. Nơi bình yên ấy, chị vẫn không yên bình – Gia đình định cư tại Sài Gòn không được bao lâu thì cha chị chết trên đường đi từ Hồng Kông đến Singapore vì tàu gặp nạn trên biển. Bây giờ mẹ chị không tìm được việc làm vì chưa thích nghi với nơi ở mới, đời sống mới...Một thời gian sau mẹ chị chết, chị sống với bà vú nuôi. Khi tốt nghiệp Tú tài toàn phần, chị không thi vào đại học Văn khoa như mong ước, lại gặp lúc Hảng Hàng không Việt Nam tuyển chiêu đãi viên hàng không, chị dự tuyển và được tuyển chọn – Năm ấy chị tròn “Hai mươi tuổi”, chị được cho đi tu nghiệp tại London một năm và trở về nước hội nhập vào đoàn bay. Chị đẹp lộng lẫy, dáng kiêu sa, hai mắt u buồn như ẩn chứa một nỗi niềm không đợi. Có nhiều phi công tỏ tình yêu chị, nhưng chị tế nhị bảo họ đợi. Thời gian lặng lẽ qua, ba năm sau chị yêu một phi công đứng tuổi, rồi làm lễ thành hôn, chị nghỉ việc – và về sống với chồng ở một biệt thự ngoại ô thành phố; chồng chị vẫn phục vụ đoàn bay – bà vú ngày xưa đã chết. Giờ trong nhà chỉ còn chị với những người hầu việc. Chị cảm thấy buồn và mơ ước một điều gì không rõ? Nhưng đôi khi có linh cảm, một ngày nào đó mọi việc sẽ vỡ như một chiếc ly thủy tinh trên bề mặt tảng đá, chị hơi sợ một niềm ly biệt mơ hồ. Đôi khi giấc ngủ chập chờn, chị mơ thấy ở đâu đó và chị lạc đường về...Phố đêm không có đèn, trăng vàng vọt huyền ảo sáng lóa trên mặt đường lát kính, và hai bên phố, thoạt nhìn một lúc, chị thảng thốt – Người ở đâu, tràn ngập mọi ngã đường, kẻ ngược người xuôi...Họ đi trong im lặng, thành phố đông người nhưng không một tiếng động, ánh sáng lập lòe, đỏ rực, từ những đôi mắt, trên gương mặt người qua lại...Chị quên mất đường về nhà, rồi chị lại gặp một bà già còm lưng đứng trong sân, dưới chân bà là con chó vện nằm ngủ. Chị rùng mình, dĩ vãng quay về, cảm thấy nhà này, cảnh này như đã gặp ở đâu? Trong quá khứ, bà già kia hình như Ngoại của chị, hay bà vú nuôi ngày trước...Chị tự vấn “có phải không?” – Bà già đứng lặng lẽ nhìn chị, thật “ma quái” Hình như bà cười, một nụ cười ma quái trên môi không hình thức. Tôi sợ và không hiểu sao bà cười – cười cái gì? Và cười với ai? Tôi quay lưng bỏ đi. Trước mặt là bức tường bằng đá kiên cố màu đen sẩm. Bức tường cao và dài đến tận chân trời, cũng trước mặt tôi là cánh cổng lớn bằng đá màu nâu. Tôi tự nhủ: Tại sao có cánh cổng ở đây?...người ta xây bức tường này để làm gì? Và nó có từ bao giờ?...Tôi lấy tay đẩy cánh cổng, cổng im lặng hé mở. Tôi đẩy mạnh hơn, cánh cổng mở lớn, tôi nhìn vào trong và thấy đó là nghĩa địa, từng ngôi mộ xếp chiều ngang, dọc theo bức tường dài hun hút, sâu thăm thẳm, không gian tối âm u. Chỉ có ngôi mộ ngang cổng sáng lờ mờ do ánh trăng chiếu vào...Một bức tường chạy dọc trước đầu từng ngôi mộ, khoảng cách chừng 40 mét đến 50 mét. Khoảng cách hẹp đủ cho một người đi vào...im lặng...Thật im lặng – Tôi không dám bước vào, tôi lui trở ra, cánh cổng khép lại...Tôi hoảng hốt la, ánh trăng trắng xanh, loang loáng khắp một vùng. Tôi run sợ và tuyệt vọng...Gió đêm qua vai, tôi cảm thấy lạnh, và đồng hồ nhà ai rơi một tiếng. Tôi tỉnh giấc, nhưng hai mắt vẫn nhắm, tôi hơi giận và phàn nàn, mộng mị suốt đêm. Tỉnh giấc hẳn, ánh sáng từ chiếc đèn ngủ phản chiếu qua bức tranh treo trên tường màu xanh đậm lạnh lẽo...Một con cừu trắng đứng tựa lưng vào đùi của Masoeur trẻ, trong một buổi chiều mùa đông Masouer đang ngồi trên bục thành giếng nước. Phía xa kia là Tu viện, nét mặt Masoeur trầm tư – rồi tôi bổng nhớ một điều gì đó – Ngày xưa còn thơ ấu, Ba tôi muốn gửi tôi vào Dòng tu nhưng Ngoại thương không cho. Sau ngày Mẹ tôi chết, Ngoại thương con. Một buổi chiều mùa hạ, Ngoại bận nguyên bộ đồ đen, đầu bịt khăn tang trắng đi thăm mộ Mẹ tôi từ một nơi nào đó trở về. Ngoại vẫn nguyên bộ đồ tang ấy, chui xuống gầm bàn thờ Mẹ tôi...ngồi khóc, chiếc khăn tang phủ kín mặt. Tôi cũng khóc ngồi bên Ngoại, ngơ ngẩn nhìn...Bao điều, còn bao điều thời thơ ấu...Tôi mơ màng chìm vào giấc ngủ khuya muộn. Tiếng chim hót ngoài vườn cây, ánh sáng mặt trời xuyên qua khung cửa sổ, tấm màn che màu đỏ rực rỡ, phản chiếu ánh sáng ban mai. Tôi suy nghỉ bâng quơ: thế là một ngày mới lại đến...Tôi đứng dậy, kéo tấm màn cửa qua một bên, đẩy nhẹ cánh cửa sổ nhìn thấy Paul đang tập thể dục ở dưới sân – một Boy hai mươi tuổi, đang học đại học, gương mặt tuấn tú khôi ngô, dáng dấp của một Tài tử Cineé...Một lần...hai lần...và nhiều lần nữa; Tôi nhìn Paul...Tôi mơ ước một ngày của mai sau, tôi sẽ có một thằng con trai giống như Paul...sao mà yêu quá...vì nó là con của Ba Paul – Niềm ước mơ mỗi ngày một dâng ngập tâm hồn, tôi đang suy tư. Bất chợt Paul nhìn lên ban công, thấy Dì đắm đuối nhìn mình – Paul cười, lấy tay ra dấu chào, chị e lệ ngượng ngùng... Cuộc sống vẫn bình lặng, êm đềm diễn ra trong ngôi biệt thự hoa lệ kia, cho đến một buổi tối chợt cúp điện, không gian chìm trong bóng tối – Paul đứng dậy, rời khỏi bàn ăn đi về phía nhà sau, người quản gia thắp cây nến đặt lên kệ bàn bên vách và tiếp tục thắp sáng mấy cây nữa trên chiếc khay gỗ rồi đem ra nhà trước – Khi gặp Paul, bà lại đưa cho Paul, Paul cầm khay có nhiều cây đèn cầy sáng rực rỡ đi về phía phòng ăn. Dưới ánh sáng lung linh, hư ảo, một người ngồi trong bóng tối nhìn, hai mắt nàng u uẩn lạ thường. Gió bên ngoài sân vắng...một vài con hạt sầu đêm bay ngang qua nhà khắc khoải gọi nhau tao tác giữa lưng trời, âm thanh buồn thảm làm cho không gian thêm u uất, muộn phiền...Người đàn bà im lặng, run rẩy, sợ một điều gì đó thật mơ hồ. Paul đặt cây đèn  lên bàn và gọi: Dì sao vậy? Anne trả lời trong vô thức...Không sao...! không sao...!...Xin lỗi! Paul nhìn thấy đôi mắt Anne đẹp, mờ nhạt, âm thầm, ánh sáng những ngọn nến cháy rực rỡ một góc bàn. Một lần nữa Paul nhìn Anne, hình như có điều gì lạ - Anne cười và hỏi Paul: Tôi có đẹp không? Paul cúi đầu trả lời thật nhỏ...Dì đẹp lắm, nhất là đôi mắt – Mắt của Dì mỗi khi ai đó nhìn thấy phải say...Thật, Anne phải thừa nhận là mắt mình đẹp. Đôi mắt to tròn, u uẩn, ướt lệ với nét nhìn xa xăm, mộng mị... Bóng tối, ánh sáng mờ ảo của những cây nến, Paul nhìn Anne, trông nàng đẹp hơn...dáng người hơi gầy, thanh mảnh, có vẽ kiêu sa lộng lẫy, với mái tóc cắt ngắn hơi phủ vai và thật thời trang – Paul tự nhủ: mình chưa bao giờ nhìn thấy người con gái nào đẹp như thế này. Paul im lặng nhìn Anne say đắm sắc đẹp của Anne. Anne hỏi Paul: Tôi đẹp lắm sao? Mà anh nhìn lâu vậy? – Paul ái ngại cúi đầu rồi ngồi xuống ghế, mời Anne ăn cơm tiếp... Sau bữa cơm tối, cả hai ra phòng khách nghe nhạc hòa tấu...Anne nói với Paul: Chờ một lát...Paul vâng lời, hồi hộp ngồi chờ...Một lúc sau, Anne từ phòng ngủ đi ra, chiếc váy dài xanh màu thiên thanh, ngắn tay. Paul nhìn Anne, thốt lên: Ồ – Dì đẹp quá! Anne cười và ngồi xuống sofa cạnh Paul. Anne hỏi: Paul thích gì?...Paul ngần ngại trả lời: thích người con gái nào đó, đẹp như Dì...Còn Dì thì sao?...Tôi ấy à – tôi thích một thằng Boy đẹp như Paul và giống tôi. Rất có thể, nó là con của Ba Paul mà, tụi nó là anh em, sao mà không giống nhau được? Anne miên man suy nghĩ, mãi một lúc lâu Anne nhìn lên thấy Paul đắm đuối nhìn mình, Anne hơi ngượng, sợ Paul hiểu lầm ý của Anne. Gương mặt Anne nóng và đỏ dưới ánh điện đêm mặc dù không son phấn. Ông Trần Định (JEAN ĐỊNH – tên thường gọi) mới đi cách đây ba hôm, còn hơn mười ngày nữa ông mới về - Ông đi tập huấn ở Malaisia...Anne ở nhà một mình vẫn thường vậy, nhưng hôm nay có thêm Paul nên bớt tẻ nhạt... Nhìn thấy Paul đang bối rối, một ý nghĩ nào đó? Anne cười...rồi choàng tay kéo Paul về phía mình...Paul không phản đối, gần như Paul chờ giây phút này, Paul hôn lên môi Anne. Hai người ngồi trên sofa hôn nhau thật lâu – Paul vòng tay ra sau lưng Anne cởi chiếc móc áo phía sau, rồi kéo chiếc váy ngủ tuột sâu xuống, lộ ra bộ ngực trắng ngần, hai vú tròn to – Paul bú vú Anne, Anne ngửa mặt hai mắt nhắm có cảm giác như mình đang cho con bú; Anne sung sướng và hạnh phúc, hai tay giữ chặt đầu của Paul và gọi: Con yêu – Mẹ yêu con vô cùng. Và một ngày nào kia, thật sự mẹ có con – con yêu của mẹ. Anne nói nhỏ và nhẹ trong vô thức. Hình như Paul không để ý, miệng ngậm vú Anne, còn đầu lắc lư...một cánh tay quàng qua sau lưng còn tay kia đang mân mê chiếc vú còn lại...Anne đê mê tận hưởng khoái lạc...Rồi Anne kêu lên, kéo theo Paul – trong khi môi Paul vẫn không rời vú Anne. Paul dang rộng hai tay ôm chặt Anne, Anne rên khẻ trong hoang lạc, hai thân thể cuộn vào nhau xê dịch dần về phía phòng ngủ của Anne. Chiếc giường rộng gần như dành cho hai người. Anne ngã lên giường và lôi theo Paul...Sáng hôm sau vẫn như thường lệ, nhưng những người hầu việc trong nhà không thấy Paul tập thể dục, những dụng cụ ở sân vẫn yên đó, không ai thấy Paul – Tiếp theo mấy hôm sau nữa vẫn thế. Trưa hôm đó ông chủ Jean Định về, Anne và Paul ra cổng đón ông; tất cả đều vui vì ông vắng nhà mấy hôm. Jean Định bỏ hành lý xuống, một tay nắm tay vợ, một tay nắm tay Paul dẫn vào nhà, họ rất vui và thân thiết, ông luôn hỏi sức khỏe của Anne và hỏi việc học của con – Ông là người đàn ông tốt luôn yêu vợ và yêu con. Buổi tối hôm đó họ cùng ăn cơm, uống rượu vang trắng với thịt rừng, mọi người đều vui trong một không gian gia đình thoáng đãng. Sau bữa cơm, họ lại đi ra phòng bên nghe nhạc, đúng là cuộc sống của giới thượng lưu. Trong cuộc sống bình yên ấy, hình như có điều gì đó...thật mơ hồ ở cả ba người. Paul xin phép về phòng, còn lại Jean Định và Anne. Jean Định nói những lời yêu thương tha thiết nhất với Anne; Nhất là những ngày xa vắng tuy không lâu; và ông lại nói tiếp: Lần này nghỉ phép được một tuần, anh lại đi Hoa Kỳ để chuyên viên kỹ thuật kiểm tra thiết bị cảm biến nhiệt và tiếng ồn...Việc này đối với Anne không lạ vì cô là Chiêu đãi viên hàng không, cô đã từng tham gia những chuyến bay trước đây để làm nhiệm vụ...và Anne cũng biết lấy chồng Phi công là chấp nhận xa chồng...vì những chuyến bay dài ngày...Trên vẻ mặt Anne hơi buồn và có một chút bối rối vô nghĩa. Jean Định hỏi Anne suy nghĩ điều gì? Anne cười bảo: Xa anh em buồn...Định kéo vợ vào người âu yếm, hai người chìm vào cơn đê mê thể xác, rồi họ dìu nhau vào phòng ngủ. Sáng hôm sau Paul vẫn tập thể dục dưới sân – Anne nhìn thấy, nhưng bước vội không nhìn. Điều này không ai biết vì sao ngoài Anne. Buổi ăn sáng được dọn sẳn lên bàn thịnh soạn, cả ba người cùng ngồi vào bàn ăn, Paul mời Bố, Dì cầu nguyện tạ ơn Chúa, những gì Chúa đã cho chúng con. Trong bữa ăn sáng ông Định nói: Hết tuần này Bố đi Hoa Kỳ một tháng Paul ở nhà với Dì, nên thường xuyên ăn cơm với Dì, đừng bao giờ để Dì ăn một mình Dì sẽ rất buồn, vì không có Bố...Paul vâng, dạ...Mặc dù vợ ông Định chết đã lâu, nhưng thương Paul còn quá nhỏ nên ông không lấy vợ khác, ông muốn dành toàn phần tình cảm cho con và chăm sóc con, vì công việc, ông phải gửi Paul vào Trường Dòng để học và cuối tuần ông đến xin Paul về với ông. Paul càng lớn càng giống ông và rất dễ thương, khi Paul tốt nghiệp phổ thông, ông định cho Paul thi vào Y khoa nhưng không đậu được, nên Paul qua học Trường Dược...năm nay là năm thứ hai...Paul đã lớn; có suy nghĩ riêng và không muốn hoàn toàn lệ thuộc vào Bố...Ông Định hiểu điều này, lúc đầu ông buồn, nhưng sau ông nghĩ điều này là đúng, con đã trưởng thành và khôn lớn, rồi sẽ có nhiều diễn biến khác, tình cảm, tâm lý cũng thay đổi; có đôi lúc ông cảm thấy như cần một việc gì đó thật mơ hồ...như sau này những bữa cơm ở nhà một mình không có Paul...Buổi chiều nhà vắng...khoảng sân vườn rộng, hoa Tigôn nở bên  hiên nhà, màu tím hoàng hôn, gió lạnh trong đêm...Rồi còn gì nữa? Tiếng động mơ hồ đâu đó? Một âm thanh huyền ảo, ma quái...Những suy tư, ưu phiền...làm cho ông Định ưu tư nhiều hơn – và ông nghĩ, phải có sự thay đổi nào đó trong đời sống...Suy nghĩ một lúc, ông nghĩ đến Anne – một cô gái trẻ đã cùng hội đoàn bay với ông thời gian gần đây. Anne là một Chiêu đãi viên trẻ đẹp, dáng vẻ đài các kiêu sa, nhất là đôi mắt lúc nào cũng đượm buồn ướt lệ như có nỗi niềm gì u uẩn, não nùng. Riêng ông là người đàn ông đứng tuổi, năm nay ông gần năm mươi tuổi, không phải là già nhưng cũng không trẻ; tính tình trầm lặng,  ít nói nhưng đã làm cho bao con tim thổn thức...Vợ ông chết lúc ông 28 tuổi có một cậu con trai hai tuổi – và từ đó ông sống độc thân đến bây giờ ...Nhưng hôm nay sao ông cảm thấy buồn vô cớ, không biết thế nào? Có một lần máy bay tạm dừng ở sân bay Hồng Kông để tiếp nhiên liệu – Ông mời Anne đi ăn cơm tối ở một Night-Club, Anne có kể cho ông nghe Anne chưa có gia đình và không định có gia đình, Bố Mẹ Anne đã mất lâu rồi, giờ chỉ còn bà vú. Ở ngoài Bắc di cư vào Nam, cũng không có họ hàng thân thích nhiều – Ông Jean Định xúc động, không nói lời nào, sợ làm cho Anne buồn. Nhưng ông rất cảm động hoàn cảnh của Anne. Khi đứng lên ra về, ông Jean Định nói thật nhẹ nhàng với Anne: Vợ ông chết rất sớm, nhưng ông không có ý định lập gia đình vì thương đứa con thơ dại...Anne im lặng...Hôm nay có gió và trời bắt đầu mưa bay. Anne cảm thấy hơi lạnh, đi bên người đàn ông, nàng rùng mình, sợ một điều gì đó mơ hồ... Dù sao thì Anne vẫn là người con gái yếu đuối, ít tiếp xúc thân mật với ai bao giờ. Bây giờ nhận lời đi ăn cơm với ông Phi công trưởng nên Anne có phần hơi ngại, nhưng Anne tin rằng ông rất đàng hoàng, không phải như những đồng nghiệp mà Anne quen họ trước đây – Anne biết mình đẹp nên rất nhiều người theo đuổi, tán tỉnh...nhưng Anne đều từ chối. Anne cho rằng họ không thật, và Anne cũng đã chứng kiến một số đồng nghiệp yêu phi công, yêu nhau tha thiết rồi lại bỏ nhau – gây cho nhau bao đau khổ; có khi hệ lụy cả đời...Làm sao biết được những chàng phi công đào hoa, đẹp trai kia, có đủ điều kiện tiếp xúc với toàn người đẹp và bảo là họ thật lòng. Bổng dưng Anne sợ và tự nhủ không yêu ai cả. Tuy vậy Anne không phải là cô gái nhu mì không nỗi loạn, có lúc Anne cũng khao khát yêu đương, mơ mộng, đắm say, âu yếm nhau...dù đó là người tình ảo. Thực chất vẫn là bản năng của con người, Chúa đã sinh con người là vậy, nhưng dù sao bản ngã tư tưởng giữa lý trí và tình cảm của Anne luôn giằng xé, khắc khoải dao động ở tâm hồn...Nếu ai nhìn thấy Anne ở một góc độ nào đó – họ đều có chung một suy nghĩ lầm tưởng và họ suy luận biến đổi tâm lý theo chiều hướng thuận, nghịch của “Tâm phân học duy lý”. Họ tự phân giải phân tâm giữa đạo đức học và luân lý học ở tâm trạng của một con người. Phân tích diễn biến, tâm lý phức tạp, Anne chìm vào giấc ngủ...Trong thị trấn nhỏ, có một trạm xe ngựa nhớp nhát, dơ bẩn – Người Xà ích già một mắt gầy ốm ngồi vét vẻo trên thành thùng xe trống chờ khách...Một lúc sau, khách từ đâu đổ về ồ ạt – họ chen lấn leo lên xe, không lâu sau xe đầy chật người. Người Xà ích cầm roi quất vào mông con ngựa gầy, con ngựa rướn người khom lưng để chạy, nhưng không đủ sức. Người Xà ích vừa la hét vừa dùng roi quất vào con ngựa...Sự cố gắng của con ngựa không xê dịch nỗi cổ xe đầy người, rồi nó ngã quỵ. Anne lấy tay che mặt, không nhìn và khóc...phía xa kia một chiếc “xích lô” thô sơ, có một con ngựa khác, đứng trên chiếc xích lô và bay lên – bốn chân đổ máu thành dòng chảy xuống đầu người phu đang còng lưng đạp chiếc xích lô ấy, và một người phụ nữ trạc tuổi hơn bốn mươi chạy hớt hãi la lên: Chờ tôi! Nó là con tôi! bà khóc...một người đàn bà khác giọng Bắc miền quê...cũng la lên: Nó là con tôi! Nó đang lên Thiên đường...Cỗ xe và con ngựa gầy ốm kia vẫn nằm yên, người Xà ích không còn đánh con ngựa nữa, ông ta nói với mọi người như lời thông báo: Nó chết rồi!...rồi ông phân trần,...thưa quí ngài: Đây không phải là con ngựa, mà nó là vợ tôi, nhà nghèo quá, con đông, tôi không có nghề nghiệp gì ổn định nên mua cỗ xe này và làm giả hình con ngựa, rồi bắt nó đứng vào kéo xe...để kiếm tiền nuôi sống đàn con hơn mười đứa. Giờ nó chết rồi, đàn con đang ở nhà chờ tôi mang miếng ăn về, không biết ngày mai đàn con của tôi sống như thế nào...? Mọi người chứng kiến và nghe thấy một việc bẽ bàng...vài người rơi nước mắt. Trời bổng tối sầm, gió từ đâu ào ào thổi tới mỗi lúc một mạnh hơn, rồi thành cơn bão...cuốn tất cả lên không trung, lúc đầu là đồ vật, sau đó là con người...bị cuốn bay. Những con ngựa già yếu lúc nảygiờ trở nên mập lạ thường và người đàn bà làm ngựa cũng bay lên với cỗ xe rách nát. Bà ta cười, tiếng cười ghê rợn như mảnh vỡ mặt trời, bà và cỗ xe bay cao, bay xa mỗi lúc một xa dần...và tiếng cười mất hẳn... Một cơn ác mộng hãi hùng, Anne giật mình thức giấc, nước mắt ràn rụa trên khuông mặt lụy phiền, sợ hãi...Anne ưu tư, nghĩ đến Bố Mẹ và Ngoại, Bà vú...tất cả đã yên bình nơi tuyến đài...Ngày mai trời vẫn nắng, gió vẫn hiu hắt ngoài kia...đó chỉ là giấc mơ. Âm thanh vang dội từ máy truyền thanh, người phát ngôn thông báo chuyến bay, mời tất cả khách làm thủ tục...Anne ngớ ngẫn, Jean Định nắm tay Anne nhẹ nhàng bảo: Chuyến bay sắp bắt đầu – Anne gật đầu cho biết là mình đã sẵn sàng...Không hiểu như thế nào mà Anne cảm thấy bàn tay Jean Định mềm và ấm trong tay mình, Anne cố nắm giữ trong giây phút...Không lâu sau đó, Anne lại cùng bay với ông Định trên chuyến bay dài...Khi máy bay hạ cánh ở một phi trường xa lạ...Anne bắt đầu thông báo phi cơ đang chuẩn bị hạ cánh, xin mời quí khách chuẩn bị – phía bên ngoài trời chiều đẹp, nắng tím màu ở chân trời, gió lồng lộng. Bổng dưng Anne nao nao một điều khó hiểu – Đồng hồ trên tay Anne chỉ số 6 và số 12. Nàng mỉm cười gật đầu; nói nhỏ như nói với chính mình – “không giờ” đêm nay đi London – Thế là sắp đến Thành phố hoa lệ, sương mù. Không biết làm gì trong mười hai giờ lưu trú tại đây, giấc mơ buồn kia vẫn luôn ám ảnh; âm thanh vọng ra từ một quán Bar, điệu Blue não nuột, là đà quấn chân nàng, nghe sao như một niềm ưu tư vô vọng – Nơi phồn hoa náo nhiệt, nhưng lúc nào nàng cũng buồn, u uẩn ở tâm hồn...không biết ngày mai như thế nào? Anne luôn buồn vô cớ, nên đôi mắt đẹp của nàng lúc nào cũng ướt, làm cho bao người say đắm – Có người nói đùa tên nàng là Mỹ Lệ (tức là Nước mắt đẹp). Nàng nghe và cười cảm ơn. Tuấn –một phi công trẻ đeo đuổi theo nàng, có lúc Tuấn định cầu hôn, nhưng Anne khước từ vì Anne biết Tuấn đẹp trai, ăn chơi sa đọa không phù hợp với Anne. Rồi còn nhiều người nữa nhưng Anne đều từ chối...Số kiếp hay sao? Hay nàng chờ đợi một điều gì? – Điều này chính nàng cũng không trả lời được. Những vương vấn nặng trĩu, bao đêm nằm mơ, cưu mang bao điều dị mộng, lạ thường...Đèn sáng đủ màu khắp mọi nơi – Anne như lạc vào không gian nào ảo mộng, thiên đường...Về đến khách sạn Anne cảm thấy lạnh và cô đơn, nhớ những ngày thơ ấu..., chiều buồn, chuông Thánh Đường âm u tan loãng trong không gian, tượng Đức Mẹ Maria buồn thảm trên đỉnh bình yên – Nàng làm dấu Thánh và đọc kinh cầu nguyện, xin Chúa sự an lành. Đồng hồ trên tường chỉ 11 giờ - tức là 23 giờ Anne cần chuẩn bị ra phi trường theo đoàn bay đi London...Ngồi trên chiếc AirBus-320 đạt độ cao – về hướng chân trời mới...Giờ là 4 giờ 30 sáng, gần như mọi người yên ngủ - Jean Định, Phi công trưởng – không biết đến London ông nói gì? Khi gặp ở cửa buồng lái, gặp Anne ông cười chào Anne và nói: Chúng ta gặp nhau sau chuyến bay – Anne suy nghĩ vẫn vơ, một ngày kia nếu không còn bay nữa, không biết có gặp Jean Định được hay không? Nhìn qua cửa kính trên thân máy bay, Anne thấy những ánh sao đêm, lạ...nàng đã từng bay đêm, nhưng hôm nay trời đêm sao đẹp quá, ngoài không gian thiên thần đang nhảy múa lẫn trong những đám mây màu xám bạc.... Anne cảm thấy nao nao lo lắng vô cớ, một điều gì đó thật mơ hồ làm cho nàng nghẹn thở, hơi hồi hộp và nhớ lại năm nay mình đã 25 tuổi, một vài đứa bạn thời trung học năm nay đã có gia đình và sự nghiệp và lâu rồi nàng không đi xem Lễ, cũng không vào Nhà Nguyện. Tiếng đàn dương cầm âm thanh réo rắt, trầm bổng xa vắng...như một nỗi buồn năm tháng cũ...Ở phía cuối chân trời, không gian mờ ảo, hư hao, người con gái quỳ bên chân Đức Mẹ cầu xin gặp lại đứa con thất lạc từ lâu...Bao nỗi buồn phiền u uất xô dạt người ấy, bao năm qua rồi, đường đi không đến mông lung dài thăm thẳm... Trong một Restaurant sang trọng, Jean Định ngồi đối diện Anne, Anne rực rỡ dưới ánh đèn đêm – nhạc thật nhẹ - ông mời Anne uống một ly rượu khai vị và ông nói: Ông xin cầu hôn với Anne – Anne không trả lời, lặng lẽ gật đầu – Ông lấy chiếc hộp màu đỏ trong túi áo veston, mở ra – một chiếc nhẫn hột xoàn năm ly có vỏ bằng platin và cầm tay Anne đeo chiếc nhẫn này vào; góc độ nghiêng phản chiếu ánh đèn néon, chiếc hột xoàn chiếu sáng. Anne cười, ông Định rất vui và nhận lời cảm ơn của Anne. Một tháng sau họ làm đám cưới tại Hồng Kông, đưa về Việt Nam sống trong ngôi biệt thự lộng lẫy tuy hơi cũ – Xung quanh có tường kiên cố bao bọc, bên trong có vườn hoa hồng, đầy màu sắc, dọc theo bờ tường nhà những giàn hoa Tigôn phủ kín...Cuối chiều hoa rụng nhiều, những cánh hoa mỏng manh tơi tã bay theo gió. Anne nhìn và thương cho những cánh hoa mau tàn, màu sắc mau úa – cũng như đời một người phụ nữ chóng phai mờ trong mắt ai đó – vậy là thế nào? Thượng Đế tạo nên vậy cơ mà. Thật khủng khiếp cho một kiếp người – Rồi đây và về sau này như thế nào? Có một điều nào đó mơ hồ Anne không hiểu được. Những giấc mơ liêu trai, mộng ảo, những suy tưởng chập chờn. Một ngày nào đó rồi qua, những năm tháng dài lại đến, mưa gió, mùa đông, những ngôi mộ ngoài nghĩa trang Thiên Chúa, cây Thánh giá lạnh buồn trong đêm vắng...một hai cô vũ nữ không nhà, đường về quê bây giờ xa lắm; dĩ vãng chìm sâu vào ký ức. Đôi khi Anne cảm thấy cô đơn, nhìn cánh hoa Tigôn rụng, lại thương mình, như cảnh báo một điều gì rất sớm; bây giờ trẻ con chạy theo nàng khóc...Hoa phượng rơi giữa sân trường vắng, mùa hạ không có tiếng ve. Ở đây người ta trồng loài hoa lạ nở toàn màu đen trong một không gian màu đỏ....Anne vẫn suy tư thẩn thờ - Từ ngày theo chồng về đây cuộc sống có thay đổi nhưng không làm xáo động tâm hồn nàng – Cho đến một sáng thức giấc sau một đêm đầy mộng mị Anne lại nhìn thấy Paul – một niềm ao ước ngập tràn...thỏa mãn với những rung động yêu đương. Rồi cảm thấy sai lầm và tội lỗi, như một ý thức sai lầm, hành động vô thức, tự tại bản ngã, mọi điều sâu kín ở tâm hồn, một dâng hiến và chấp nhận không hối tiếc...Niềm ân hận bắt đầu, đêm qua nằm bên ông Định, nàng mơ thấy những con “búp bê” nhảy múa, ca hát, gọi tên nàng, bọn nó gọi nàng bằng Mẹ, nàng vẫn biết nó là con nàng nhưng không biết nó là con của người đàn ông nào? Sao nó giống Paul – đôi mắt to tròn, mũi cao, môi mộng đỏ, lúc nào cũng cười, ôm cổ nàng...Nàng ôm một đứa bé vào lòng nhìn thật kỹ, không thấy nét nào giống Paul mà lại hao hao ông Định, nhất là nụ cười trong đêm ông trao nhẫn đính hôn cho nàng. Trời! Vậy là thế nào? Thế là sao? Có một âm vang vọng lại nó là con, là đứa con mơ ước. Nàng nhớ lại: lần đầu nhìn thấy Paul – nàng mơ ước có một đứa con trong tương lai giống Paul, nàng nghĩ vì nó là con của ba Paul...không lẽ bây giờ là thật. Nàng bắt đầu suy tư...cũng có phần ray rức ân hận...Ông Định trở người ôm hôn nàng...giờ chắc nửa đêm – Nàng chưa ngủ, nàng ý thức được bên mình là ông Định, chồng nàng...Nàng ôm ông Định mà cảm thấy hờ hững, lạnh lùng, giờ ái ân nhạt nhẽo. Ông Định không biết, nàng cũng không để lộ chuyện không hưng phấn của mình, rồi ông Định ngủ say...Lâu sau nàng cũng ngủ thiếp đi trong buồn phiền... Sáng thức giấc, nắng bên ngoài đã lên cao, tiếng chim hót vang ngoài sân vắng. Buổi điểm tâm hôm nay người phụ bếp mang lên chậm, ba người ngồi uống cafe, Anne ngồi bên ông Định, Paul ngồi đối diện, hình như Paul không vui – Ông Định nói ngày mai ông phải đi xa khoảng ba mươi ngày, vừa nhận được lệnh của cấp trên – Paul ở nhà với Dì...chăm sóc Dì, đừng để Dì buồn...Paul vâng, dạ. Ông còn dặn dò Paul nên đệm piano cho Dì nghe vì Dì thích âm nhạc, nhất là nhạc giao hưởng, vì ông biết Paul có năng khiếu về âm nhạc – Rồi ông nói với Anne...em ở nhà với Paul, nếu thấy buồn bảo Paul đưa đi chơi đâu đó hay đi nhà thờ, đợi anh về; Anne vâng dạ, gương mặt đượm buồn xa vắng, như một người vợ hiền, ngoan, vắng chồng, nàng cũng không nói lời nào. Vốn dĩ Anne là người ít nói, thường biểu lộ tình cảm bằng cách nhìn yếu đuối...Anne nghĩ ngày mai chồng đi rồi, cuộc tình vụng trộm và tình yêu tội lỗi...nàng không đủ can đảm vượt qua. Trên gương mặt Anne nét u buồn phảng phất, sự giằng xé ở tâm hồn, giữa lý trí, tình cảm và cả tâm linh...Những đứa trẻ thơ trong giấc mộng đêm qua, nó là con của nàng, nhưng là con của ai nữa...nàng không biết, chính điều này làm cho Anne ưu phiền, hối hận – Đêm nay Anne muốn nói điều gì đó với chồng, nhưng nàng không nói. Ngày hôm sau Paul lái xe đưa ông Định ra phi trường, ông Định vẫn dặn dò Paul chăm sóc cho Anne và nhắc nhở Paul lo học hành...Trưa hôm đó Paul gặp Anne ở phòng ăn, Paul vẫn lễ phép, nhẹ nhàng cư xử với Anne. Bữa cơm trưa xong Anne vào phòng riêng, thay bộ đồ khác thì Paul đẩy cửa bước vào, Paul lao tới vồ lấy Anne, như một con thú vồ mồi...hai người ôm chặt lấy nhau, họ hôn nhau như chưa từng được hôn bao giờ, ngoài kia nếu trời có sụp đổ họ cũng không hay...Paul nói vào tai Anne: Anh yêu em...! Anne gật đầu...rồi họ ngã người lên giường – chiếc giường mà ông Định và Anne vừa ân ái đêm qua. Những đêm ân ái với Paul, có lúc Anne ân hận, nàng nghĩ đó là sự lỗi lầm không ý thức...Thật ra lúc đầu nàng nghĩ nàng thích Paul vì thấy Paul đẹp, khỏe mạnh, Anne mơ ước một đứa con như Paul, nàng lý luận vì nàng là vợ của Định, Ba Paul, nên có một đứa con trai giống Paul là chuyện bình thường...không ngờ Paul hiểu lầm và dẫn đến một việc ngoài ý muốn...vì Anne là người yếu đuối về tình cảm và hơn nữa – điều kiện thuận tiện, không gian, thời gian và hoàn cảnh, tâm lý, tình cảm làm cho Anne không cưỡng chế mình...Còn Paul, một thanh niên khỏe mạnh đầy sinh lực, làm sao nàng ngăn cản được...vì thế nên có giay phút yếu lòng, không kiềm chế được... Ông Định vắng nhà gần bốn tuần, một buổi sáng thức giấc, Anne cảm thấy choáng váng, nôn ói, nàng đi vào toilet và sau đó bình thường – Rồi những ngày hôm sau vẫn diễn ra như vậy. Trong người hơi mệt mỏi...Anne cảm thấy lạ - biếng ăn...ban đêm lại thích có Paul...mặc dù nàng cảm thấy có phần ân hận – Anne cảm thấy lo sợ...một ngày nào đó mọi việc phơi bày, hai người kia bỏ nàng ra đi, và nàng sẽ sống như thế nào trong ngôi nhà này...? Một cuộc đời đơn độc đầy tội lỗi...chưa có gì rõ ràng, chỉ là các triệu chứng hay hiện tượng biến đổi trạng thái, tâm trạng, nhưng sự giằng vặt tâm lý, phần lớn làm cho nàng buồn, lo âu, khắc khoải...mơ hồ, vừa ao ước, vừa ưu phiền...Không biết thế nào? Ngày mai, ngày kia khi gặp Định nàng sẽ nói gì?...và chắc là không nói gì với Paul; nàng nghĩ mặc dù Paul có thể là tác giả. Điều bất hạnh nào nếu có, chắc là nàng xin nhận chịu hoàn toàn. Niềm hối hận, ăn năn bắt đầu từ khi một buổi sáng thức giấc thấy mình choáng váng nôn ói...nàng biết đó là hiện tượng... Rồi ông Định về, khoảng trưa ngày ấy ông vui vẻ nắm tay Anne, Anne vui mừng, bớt ưu tư. Sau buổi cơm tối bình thường – Paul mở các đèn ngoài sân, Anne vào toilet, ông Định nghe tiếng nàng nôn ói..., ông vào phòng ngủ, chiếc drap trải giường xốc xếch, có vết loang màu cáu bẩn cũ, dưới gối là chiếc áo lót của Paul...Ông giật mình, suy tư...rồi im lặng...nỗi niềm nào đó dâng lên ray rức, bực dọc, giận dữ...nhưng ông kiềm chế được. Vì dù sao, ông Định là người đàn ông đứng tuổi, hơn nữa tính ông trầm tỉnh ít nói cho dù là việc gì, và ông cũng là người trí thức, rất trọng danh dự, thường không để cảm xúc trước một đối tượng nào...cho dù đó là ai...việc nghiêm trọng đến thế nào...Nhưng việc này quá lớn, và bất ngờ khi ông phát hiện...Ông suy nghĩ ông phải làm sao? Mọi việc đã xảy ra, và ông tự cho rằng mình có một phần lỗi trong việc này, bởi vì Anne còn rất trẻ đẹp...Paul là một chàng thanh niên vừa mới lớn. Cánh cửa phòng mở, Anne bước vào, nàng nhìn thấy Định thẩn thờ mất hồn, Định bình thản hỏi Anne: Em không được khỏe phải không? Anne gật đầu cười buồn, hơi ngượng...Anne thấy ông Định nhìn tấm drap trải giường, nàng bối rối tự trách mình vô ý không thay tấm drap khác, nhưng bây giờ đã muộn...Ông Định bảo Anne kêu bà gia nô thay drap và gối trong phòng ngủ...Anne vâng dạ...Đêm ấy cả hai không vui khi gặp lại... Sau một khoảng thời gian vắng nhau...ông Định hôn Anne hững hờ rồi xoay mặt qua chỗ khác kêu mệt...Anne im lặng, biết là chồng đã hiểu...và sau đó là những đêm ái ân lạt lẽo hững hờ của hai ngưởi...Ông Định và Anne đều biết rõ qua trạng thái của nhau nhưng không ai nói với ai điều gì...Bây giờ chỉ còn là tâm trạng chán chường, u uất, mỗi người suy tư về một hướng. Anne luôn luôn yêu tôn trọng và yêu thương chồng, không bao giờ muốn xa chồng hay mất chồng...Nàng khao khát một đứa con trai đẹp, khỏe mạnh, thông minh như Paul...và nàng biết điều này thực hiện được, nó giống Paul vì nó là em của Paul, có gì lạ...nhưng giờ thì không đúng vậy...vì sao? Nghĩ đến đây nàng  khóc, im lặng khóc...khóc cho một ngày mai...khóc cho tương lai không đợi...khóc cho những gì nàng không giải thích được...khóc cho một sự thật phủ phàng, ngang trái...vì đâu...vì đâu...? Nỗi oan khiên...sự ân hận và hối tiếc, sự giày vò đau khổ im lặng trong đêm...Thế rồi nàng cũng thiếp đi...và mơ thấy: dòng sông lớn, tàu thuyền tấp nập, chiều xuống có tiếng ai hát trong đêm...Trăng bắt đầu lên, những người hành khất rách rưới, đói khát xin ăn...có đứa nhỏ đang bò trên đất ôm chân nàng và gọi nàng là Mẹ. Anne nhìn đứa bé ốm yếu, dơ bẩn, nước da trắng xanh xao vì suy dinh dưỡng, nhưng lạ...gương mặt, hai mắt, sóng mũi, tráng rộng...miệng lúc nào cũng cười, Anne nhìn một lúc thấy sao nó giống ai đó...thật quen, thật thân...Nàng rùng mình, dường như có lúc gương mặt nó giống Paul...nhìn kỷ hơn nó lại giống Jean Định....Anne thảng thốt la lên...Chúa ơi! Thế nào đây? Ông Định giật mình quay qua Anne và hỏi: Em mơ? Anne chưa tỉnh hẳn vẫn còn ám ảnh bởi giấc mơ, Anne nói có khi nào nó là con của anh không? Bất ngờ ông Định hỏi: Em nói gì? Anne tỉnh giấc trả lời: chỉ là giấc mơ...Ông Định cảm nhận một điều gì đó, ông buồn phiền an ủi Anne: Ngủ đi...! nhưng thâm tâm ông nghĩ có điều gì đó oan nghiệt mai sau...mỗi người suy tư theo một chiều hướng riêng của mình. Thật tâm ông Định không muốn làm tổn thương con, vì con còn thơ dại, nông nỗi, mọi việc buồn phiền nào...ông nghĩ ông sẽ nhận lãnh để cho con yên lành. Ông yêu con, ông đã từng hy sinh năm tháng dài cho con được trọn vẹn tình cảm của ông...Không lẽ bây giờ...Nhưng sâu thẩm tâm hồn ông yêu Anne, ông không muốn mất Anne, ông nghĩ Anne là mãi mãi của ông...Bây giờ trong ngôi biệt thự này ông bị phân lập tư tưởng, trời Đà Lạt sắp vào thu, se se lạnh, ông kéo tấm chăn đắp cho Anne và cho mình, ông mở mắt nhìn Anne...rồi nhìn lên trần nhà...Anne vẫn thiêm thiếp ngủ...một lúc sau Anne giật mình kêu ú ớ...Định thở dài não nuột, ngày mai...ngày mai... Hè sắp hết, Paul trở về trường để tiếp tục việc học, ông Định theo đoàn bay dài ngày...Anne ở nhà một mình, không gian yên lặng,  các phòng trong biệt thự trở nên xa lạ với nàng và nàng cảm thấy như địa ngục...không hiểu như thế nào...sau này mỗi lần Anne trong vòng tay của Paul, Anne thích Paul hơn, cho nên cả Paul và Anne thường trộm lén gặp nhau, nhưng có lúc Anne gần như mất ý thức khi ân ái, Anne chìm sâu vào hôn mê…và để cho Paul thỏa mãn…còn nàng vô cảm, và gấp gáp sợ một điều gì đó vĩnh viễn, cảm tưởng có lúc thực, có lúc mơ hồ, nên tinh thần nàng luôn luôn mất ổn định – suy nghĩ mãi về một ngày nào đó…cả hai không nhận biết là ai; nhưng nàng có thể biết và chỉ một mình nàng biết…Nỗi ưu tư ân hận dày vò và cả ba người chắc là họ gần giống nhau cùng tâm trạng, mỗi người suy tư một khác. Ông Định thương con, không muốn con tổn thương, đau khổ về tâm lý rồi sa sút việc học, nhưng ông không thể không ghen tuông, giận hờn việc mà ông biết, vì ông rất yêu vợ…Tâm hồn ông Định lúc nào cũng bị ray rức, giằng xé giữa lý trí và tình cảm: một là tình cảm thiêng liêng, hai là tình chăn gối. Hy sinh cho nhau, vì ông đã hy sinh suốt mấy chục năm…Tâm lý ông có lúc hoảng loạn…ông cố cam chịu, không thổ lộ cho ai biết kể cả Anne và Paul, là hai người yêu thương nhất trong đời ông…Tâm lý không ổn định, diễn biến sự việc theo chiều hướng không lối thoát, có lúc ông trở nên trầm cảm, mệt mỏi, ban đêm ưu phiền không ngủ được, đôi khi ông có ý định thoát ly bằng một giải pháp nào đó cho chính mình, rồi chán nản bắt đầu…bao ưu tư dày vò, tinh thần suy sụp dần…ông lo sợ một điều gì đó không hình thức, như trong gia đình và trong đời sống lại xuất hiện một nhân vật, gây mặc cảm cho mọi người, yêu thương và hờn oán. Nhưng cả ba đều là trí thức nên họ ý thức rất rõ về những điều gì đó và họ cố tránh né – oái oăm, biết làm sao được, sự thật vẫn là sự thật…Anne lo buồn, suy nghĩ nhiều, vừa ân hận, ưu phiền, miễn cưỡng theo ngày tháng…Ngày dài cứ trôi qua, biết rõ là mình đã có thai và phải nói như thế nào với ông Định? Tuy ông Định không để lộ ý nghi ngờ nào…? Nhưng Anne biết, hơn nữa Anne là người hiền lành, tôn trọng sự thật, không giả tạo, không dối trá, Anne suy nghĩ nói gì với ông Định, khi ông Định trở về, nàng lại nhớ giấc mơ đêm nào và tự hỏi nó là con của ai?...Anne khóc, không muốn rời xa đứa bé, Anne tự nhủ: nó vẫn là con của Anne. Anne yêu thương nó như yêu thương tình yêu không đợi, nó vô tội…tội lỗi này là do nàng và chỉ một mình nàng nhận chịu. Bây giờ Paul đã về trường, ông Định vẫn bềnh bồng trên phi cơ, còn lại mình Anne ngồi đây ưu phiền nghĩ về tương lai đen tối, không lối thoát, có lúc nghĩ đến giải phóng tâm hồn...Mệt mỏi ở thể xác và cả tâm linh, có lúc nàng  không đủ sức chịu đựng...suy nghĩ một điều gì đó mơ hồ để thoát khỏi, nhưng làm sao? Mọi điều suy nghĩ mãi vẫn bế tắc, rồi đây ông Định sẽ về, đối diện ông Định nàng phải nói gì? Tại sao? Anne nghĩ chính mình đã làm cho mình bế tắc, tự trách mình và dày vò, tinh thần Anne suy sụp, nàng ít ăn ít nói, ngủ là chiêm bao – Bây giờ nàng sợ...điều gì đó mơ hồ lắm, nàng tự hỏi không biết ngày mai như thế nào? Nàng luôn âm thầm nhận thấy mình tội lỗi. Thực ra cả ba người đều bị lương tâm dày vò, giằng xé, mâu thuẩn, tranh luận và kết luận trong tư tưởng...nhưng thầm lặng. Anne suy nghĩ không biết giờ này Paul có nghĩ gì không? Nếu mai kia có sự mất mát nào đó Paul có buồn không? Ai hiểu được? Anne và Paul đang đứng trên hai trục đối xứng, ông Định là người thứ ba đau khổ - Tương lai còn lại, ngày sau ông Định và Paul – năm tháng dài vô tận, có thể nàng sẽ không có mặt trong đời sống của hai người – Quá đau khổ, nàng khóc một mình... Ông Định trở về...Taxi đổ trước cổng, chiếc vali lớn được người gia nô kéo trên đường sỏi vào nhà, tay ông xách Samsonite màu đen như thường lệ...Anne đón ông ở sảnh lớn, ngôi biệt thự gần trưa thật yên lặng, ông Định cười nắm tay Anne. Ông hơi xót xa khi nhìn thấy Anne xanh xao, gầy, đôi mắt trủng sâu u uẩn...ông nghĩ nàng buồn...Anne nhẹ nhàng nhận chiếc samsonite từ tay ông Định đi vào phòng ngủ...Định ôm hôn Anne, Anne cũng hôn ông trong nỗi buồn phiền...Nhạc ở ngoài phòng khách ai mở du dương, Anne lại cảm thấy buồn...sau đó âm thanh mạnh hơn điệu Disco do một ca sĩ da đen nào đó hát, gào thét điên cuồng...rồi tiếng kèn Saxophone và Whiteney Huston hát một điệu nhạc Jazz “Crazy Love” mà nàng thường nghe trên phi cơ lúc đang bay...tất cả giờ là kỷ niệm...Bổng dưng Anne nhớ quay quắt về những ngày xưa, từ thời thơ ấu đến những năm tháng mơ mộng...rồi bao nỗi ưu phiền trong cuộc đời...ngày tháng không đợi...Niềm tủi hận, tâm trạng tuyệt vọng, những âm thầm đau khổ, ăn năn về sự lầm lỗi và cuối cùng nàng muốn giải thoát, nàng nghĩ đó là giải pháp tuyệt vời nàng phải chọn – Đêm tối nằm bên ông Định nàng nghĩ vậy...và ngày mai không còn nữa. Nàng ngồi dậy ra ngoài lấy tờ giấy trắng viết mấy dòng...rồi lại vào phòng ngủ, lật sấp tờ giấy bỏ lên bề mặt chiếc gối...một lát sau nàng đi ra ngoài... Bà hầu giúp việc nhà vào toilet làm vệ sinh buổi sáng như thường lệ, bà đẩy cửa toilet khép hờ, trước mặt bà là một cảnh tượng hãi hùng, máu..máu lênh láng trên mặt nền toilet, trong góc bà thấy Anne ngồi rủ rượi trên nên gạch, đầu gục xuống, mái tóc ngắn phủ mặt. Bà thảng thốt la ú ớ và chạy ra ngoài...hai người gia nô đang làm việc ở nhà sau chạy vào, bà lấy tay chỉ về phía trước. Họ chạy theo bà, bà chỉ vào toilet không nói được lời nào. Hai người kia hốt hoảng chạy lên phòng ngủ ông Định, gọi ông; họ không nói gì, lôi ông Định về phía toilet. Đây là toilet dành cho khách, trước mắt ông Định...một cảnh tượng hãi hùng, trong giây phút bàng hoàng ông Định cùng hai người kia khiêng Anne ra nhà trước đặt nàng trên chiếc Sofa ở phòng khách. Chiếc Sofa định mệnh – Đêm nào đó, Paul ôm hôn Chị lần đầu...Giờ Chị nằm bất động... Một người nói “Bà chết rồi”...một người nữa nói...Ôi Chúa!...máu vẫn còn chảy ra ở khuỷu tay, vậy là Anne đã tự tử bằng cách cắt đứt động mạch chủ, mất máu nhiều và chết. Nhưng tại sao tự tử? Điều này các gia nô không ai biết, họ chỉ tiếc thương bà chủ trẻ đẹp, hiền lành, tốt tính...bây giờ bà chết rồi không biết làm sao... Ba ngày sau khi chết, ông Định làm đám ma buồn tẻ, ông không thông báo cho ai biết...mà xét cho cùng Anne cũng đâu có ai là bà con thân thích đâu để mà thông báo...Lễ tang được tổ chức do một đám đạo tỳ đảm nhận, chôn nàng ở nghĩa trang của một người chủ là tư nhân kinh doanh nghĩa địa. Ông Định cầm trên tay tờ giấy Anne viết lúc nào ông không biết: “Xin lỗi – Xin lỗi – Tất cả mọi tội lỗi...tôi xin cam chịu một mình, không oán hờn ai, Xin lỗi – Xin lỗi...” Ông Định thở dài chết lặng, ông nói thì thầm: “Em đã bình yên”... Chiếc xe thổ mộ, hai con ngựa xếp hàng đôi; cỗ quan tài phủ tấm vải đỏ màu huyết dụ, trên nắp quan tài hàng bạch lạp song song cháy leo lét trước gió. Paul ngồi gục đầu lên tấm vải đỏ...bên kia quan tài đối diện là gương mặt ảo não của ông Định thẩn thờ đau khổ nhìn Paul...Phía trước đầu quan tài là bình hoa hồng và tấm di ảnh của Anne ưu phiền nhìn ngược lại cha con ông Định...cảm tưởng như nàng đang cười. Đường gập ghềnh, chiếc xe chao nghiêng, người Xà ích lấy roi quất vào mông con ngựa bên trái và bảo: Nhẹ nhàng thôi...Phía sau lưng nắng đổ vàng, nước mắt ai đó nhạt nhòa rơi...đường về nghĩa trang hun hút bóng chiều, xa kia là chân trời màu tím... Huyệt mộ đã được đào sẳn, những người phu chôn người làm nhiệm vụ, nhìn xuống hố sâu nơi có quan tài, Paul hỏi: Ai dưới mồ đó Ba? Ông im lặng giây lát rồi trả lời...Người đàn bà tội tỗi...Paul lại hỏi: Mấy giờ rồi...? ông Định ân hận trả lời: Dưới huyệt sâu này, vĩnh viễn chôn vùi như một quá khứ...Paul khóc và đính chính – “Không phải quá khứ - Linh hồn của con...Bố ơi!” Gương mặt ông Định biến sắc, quay qua hướng khác,...bổng dưng ông ngửa mặt lên trời cười...tiếng cười phát ra âm thanh ghê rợn như mảnh vỡ thủy tinh và ông bỏ đi, tiếng cười mỗi lúc một xa dần...rồi mất hẳn...Ông đi về phía mặt trời...những người phu đào huyệt lấp đất chưa đầy huyệt mộ, họ bỏ lại, lên xe người Xà ích, cho xe ngựa chạy về hướng ngược chiều mờ khuất trong bóng hoàng hôn, bên đường hàng thông reo vi vu.... Một mình tôi nhìn theo họ...nhìn theo bóng Ba tôi, đều mất hút. Chỉ còn ngôi mộ chưa lấp đầy, dang dỡ...Gió hiu hắt qua miền hư ảo, hoàng hôn chìm dần trong bóng tối... Hôm nay mùa thu về sớm, hoa Tigôn rụng nhiều, những xác hoa tả tơi, héo tàn ngập đầy lối đi...Chị nắm tay tôi nói...Ôi! buồn quá; tôi sợ một ngày kia và như một định mệnh...Anh từ đâu đến? Đến đây làm gì?...mọi đau khổ khơi nguồn cho một ngày mai phải vậy không? Đã đến lúc thời gian lưu trú của tôi tại ngôi dinh thự không còn nữa, tôi phải đi và chưa có ý định đi đâu? Suy nghĩ về những buổi chiều..., về Chị...và tình yêu; ngày mai phải xa rồi. Trước khi đi nói câu gì từ giã Chị...Tối hôm đó nhà quí tộc mời tôi ăn cơm thân mật cùng gia đình, tôi nghĩ chắc là ông muốn nói với tôi những ngày tháng qua tôi làm việc ở đây và đến lúc kết thúc. Chuông reo ở phòng ăn, người hầu việc mời tôi vào...Tôi nhìn thấy nhà quí tộc hôm nay thật lạ - Ông mặc veston, cà vạt nghiêm chỉnh, tôi cúi đầu chào, Ana ngồi bên ông còn Chị ngồi đối diện, tôi tiếp tục chào hai chị. Ana cười bí mật...còn Chị gật đầu...Tôi ngạc nhiên vô cùng, lúng túng không biết ngồi vào đâu, Ông chỉ tay về phía Chị và ra dấu cho tôi ngồi xuống bên Chị. Tôi rụt rè kéo ghế ngồi xuống, Chị vẫn im lặng không nhìn tôi. Bữa cơm được bắt đầu, Ông mời tôi và mời hai chị...Tôi cung kính lễ phép mời Ông cùng hai chị đọc Kinh tạ ơn...Thế rồi tôi ăn cơm trong sự ngượng ngùng, đèn néon sáng rực nhưng hai mắt tôi cứ mờ dần...giữa bữa cơm Ông rót hai ly rượu mạnh, loại rượu quá quý đối với hạng người như tôi. Ông cầm ly mời tôi, tôi rụt rè hầu Ông...và Ông nói: Hôm nay tôi bàn với anh, nếu anh đồng ý, ngày mai tôi làm việc với Phường Đoàn, ghi tên anh gia nhập vào Hội Đoàn và tôi cho anh ở lại đây lâu dài để làm việc, anh nghĩ sao? Tôi tái mặt khi nghe câu này... Tôi im lặng một lúc rồi thưa vâng; Ông nói tiếp: Elisa Liz đã trưởng thành, tôi muốn nó kết hôn cùng anh...Tôi sửng sốt, vô cùng ngạc nhiên – Ana nhìn tôi mỉm cười, bây giờ tôi mới thực sự biết tên Chị là Elisa Liz. Theo dự tính cuối mùa đông, vào dịp Giáng sinh chúng tôi làm lễ thành hôn, sau hôm ấy Ông cho phép tôi và Chị được giao tiếp với nhau, Ông cũng thường nhắc nhở chúng tôi đi Nhà thờ, Ông hy vọng rất nhiều vào tôi, bắt đầu giao công việc cho tôi quản trị nhà máy rồi đến các nông trang...và một số đồn điền cafe, cao su...Tôi luôn luôn bận công việc, Chị yêu tôi tha thiết, Chị nói: “Em không buồn nếu có anh trong cuộc đời”, tôi vui lắm. Những hôm vào Thánh Đường xem Lễ, Chị quỳ bên tôi, mắt nhìn lên Tượng Đức Mẹ Maria cầu xin cho chúng tôi “Không bao giờ chia lìa nhau”. Và đến ngày kia, mùa đông năm nay khá lạnh, ngồi trong phòng ăn Chị rùng mình kêu lạnh rồi Chị đi lấy áo lạnh mặc vào nhưng cũng lạnh...Tôi đưa Chị về phòng lấy chăn đắp cho Chị, Chị rên khẽ, tôi nghĩ chắc là Chị bị cảm vì trời sắp giao mùa và ngày cưới cũng gần đến, có lẽ là Chị lo nhiều, chắc là không sao – Nhưng qua hai ngày, bệnh nặng thêm, Chị không ăn được, nhiệt độ tăng, thuốc hạ nhiệt không làm giảm nhiệt độ trong cơ thể. Nhà quí tộc lo sợ, mời bác sĩ về khám bệnh – Sau khi xem xét, bác sĩ ghi giấy giới thiệu đi bệnh viện, vì một bệnh lạ...luôn luôn sốt cao kèm theo khó thở, không ăn uống được. Chị được nhập viện, lúc tỉnh lúc mê...Chị vẫn im lặng hai mươi bốn giờ. Sau khi xét nghiệm, kết quả cho thấy Chị bị cúm bởi một loại virus lạ cần phải cách ly, tránh sự tiếp xúc gần nếu không cần thiết...Trong phòng bệnh, trên giường Chị im lìm mắt nhắm, bao plastic chụp trên mũi có dây truyền oxy để thở...Ngày qua ngày trông Chị héo hắt dần, bệnh mỗi ngày một nặng...Bác sĩ trực đề nghị cách ly hoàn toàn, cấm người già và trẻ con đến gần sợ lây nhiễm vì sức đề kháng yếu...Tôi xin bác sĩ cho tôi ở lại chăm sóc Chị...bác sĩ đồng ý, nhưng nhắc tôi cẩn thận, giữ khoảng cách. Vì yêu Chị tôi không sợ điều gì...Nhà quí tộc lo lắng vô cùng, tất cả đến thăm đều ở phòng ngoài, tôi nhìn Chị thiêm thiếp trên giường bệnh tôi đau khổ vô cùng, luôn đọc Kinh xin Chúa chữa lành bệnh cho Chị. Một tối thật khuya, Chị nói những lời gì đó tôi nghe không rõ, không hiểu được Chị nói gì, chỉ thấy Chị thều thào, mấp máy đôi môi khô héo...tấm drap trắng phập phồng theo hơi thở mệt nhọc, hình như Chị khóc, nước mắt lăn dài trên má gầy guộc xanh xao. Biết làm sao, giờ bệnh Chị quá nặng, tôi vô cùng lo lắng cho tính mạng của Chị, nhưng khi gặp người nhà tôi không dám nói gì cả. Nhà quí tộc vào thăm, gặp tôi tận tụy lo cho Chị, Ông lắc đầu ngao ngán, Ông nói rằng: Ông không biết nói gì với tôi, tôi nói với Ông cầu xin Chúa Ông sức khỏe. Hai đêm cuối cùng bệnh trở nặng, bác sĩ và y tá túc trực, tôi vẫn luôn luôn đứng bên giường bệnh, đồng hồ trên tường ba cây kim đứng đúng con số 12, có ai đó nói: “Không giờ”, người bệnh thở mạnh lạ thường, y tá vội đo huyết áp rồi cô lắc đầu, áp lực huyết áp bằng “0”. Bác sĩ nói bệnh nhân chết rồi...tôi lảo đảo, căn phòng quay cuồng, không tin lời bác sĩ. Thế rồi tôi quỳ xuống ôm thành giường, úp mặt bên xác Chị, nước mắt nhạt nhòa. Người y tá xuống phòng y vụ làm thủ tục, một lát sau cô y tá trở lại trên tay cầm tập hồ sơ bệnh án bảo tôi ký vào biên bản bệnh nhân đã chết...và hỏi sự quan hệ của tôi, tôi im lặng một lúc rồi trả lời: “Chồng sắp cưới” cô y tá nhìn tôi nói lời chia buồn. Tôi bật khóc...mọi thủ tục xong, chiếc xe đẩy có băng ca được hai người y tá khác mặc áo blouse đẩy vào và chuyển xác lên xe rồi đẩy về nhà xác. Tôi lặng lẽ theo sau; xe được đẩy vào nhà xác, tôi đứng ngoài nhìn vào qua các khung cửa kính. Biết được con gái đã chết, nhà quí tộc sụp đổ tinh thần hoàn toàn. Ba ngày sau đám tang, cơm tối xong tôi xin phép gặp nhà quí tộc, tại phòng khách tôi xin Ông cho tôi đi...Ông lặng thinh một hồi lâu, đau khổ bảo: Ừ, nó chết rồi... Sáng hôm sau, tôi mang ba lô trễ tràng trên vai, tìm chào từ giã Ông. Người hầu việc trong nhà báo với tôi là Ông ra khỏi nhà rất sớm, Ông có gửi cho bà một cái ví dặn bà đưa cho tôi, tôi cầm ví cảm ơn, đi ra cổng, cánh cổng mở rồi khép lại...Tôi nhìn lần cuối và ý thức được rằng tôi không còn dịp nào nữa trở lại đây – Tôi bắt đầu cuộc hành trình nhưng chưa có ý định đi về đâu...chỉ hướng về phương Nam. Tôi đi mãi vô định, ban ngày đi, ban đêm có khi ngủ ở phạn điếm, có đôi khi ngủ nhờ ở một Nhà thờ nào đó. Và cứ thế mà đi...đến một buổi chiều tôi vào khu dân cư lạ nhưng đây là một Gíao xứ...Tôi vào xem Lễ, lúc mọi người đang cầu nguyện, tôi cũng cầu xin Chúa ban phước cho nhà quí tộc yên bình, cho Elisa Liz và cho cả tôi nữa. Đêm đó tôi ngủ lại bên hông nhà nguyện phía sau Nhà thờ do ông Trùm tốt tính cho ngủ nhờ...Nhớ lại chiếc ví của nhà quí tộc, tôi mở ra xem, Chúa ơi! Mọi việc quá bất ngờ, trong ví có một tấm ngân phiếu mệnh giá 500.000VNĐ (Năm trăm ngàn đồng), hai chiếc lắc bằng vàng, một đôi bông tai có đính hạt kim cương, một chiếc nhẫn vỏ bằng platin gắn hột xoàn 5 Cara...và một mảnh giấy Ông viết...Nhìn những vật sính lễ...Tôi khóc.... Sáng ngày hôm sau, tôi tìm từ giả ông Trùm Nhà thờ và tôi đi, tôi đi mãi, qua nhiều miền xa lạ. Ngày nọ, ngang qua một thị trấn xa xôi. Trời mưa, tôi vào quán ven đường ở thị trấn nhỏ đang có chiến tranh, chị chủ quán cười buồn chào tôi, tôi ngồi vào bàn bên cửa sổ suy nghĩ: Nơi này là đâu? – Không biết mình từ đâu đến?...Đến từ bao giờ?...Chỉ là: TÔI MƠ MỘT GIẤC MƠ...   

Tác giả Vũ An Dzu.19h ngày 7/4/2020 tại Emerald Precinct – Tan Ph

u

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *